Doãn Nho - Một Âm Hưởng Tráng Ca

Ngày niên thiếu, trong một kỳ cắm trại ở Đồ Sơn, tôi thật ngạc nhiên khi nghe một người bạn hát một hành khúc mới toanh trong đêm lửa trại. Bản hành khúc có tên là "Tiến bước dưới quân kỳ" nghe mới hào sảng, thôi thúc làm sao. Tôi khẩn khoản nhờ người bạn dạy cho. Người bạn có vẻ tự hào vì đã thuộc được một hành khúc hay. Sau này, khi đã vào đại học, chúng tôi lại vẫn thường hát vang hành khúc này trong các kỳ tập quân sự. Lúc ấy, tôi mới biết tên tác giả hành khúc đó là Doãn Nho nhờ một nữ cán bộ đi học tên là Ngô Hiền Minh. Không ngờ đến bây giờ chị Minh lại là thông gia với nhạc sĩ Doãn Nho.

Doãn Nho gốc Hà Nội. Anh tham gia quân đội năm 1950. Khi ấy, anh mới 17 tuổi, đã từng tham gia Thiếu Niên Cứu Quốc 1945, rồi sau đó là Đội Tuyên Truyền Xung Phong Vĩnh Yên ngày Toàn quốc kháng chiến. Doãn Nho vào bộ đội là đi học ngay Trường Lục Quân Việt Nam khoá 6. Nhưng do khả năng âm nhạc và biết chơ violon, anh trở thành nhạc công của Đoàn Văn Công trường Lục Quân. Ngày ấy, anh đã bắt đầu viết ca khúc. Những "Bà mẹ nuôi", "Tiến lên theo gương La Văn Cầu"... do anh sáng tác đã được thành tiết mục biểu diễn. Khi chuyển về Văn Công Tổng Cục chính trị ngày Giải phóng Thủ đô, bài hát "vui giải phóng" của anh cũng được sử dụng trong chương trình của đoàn. Nhưng có lẽ phải đến hợp xướng "Sóng Cửa Tùng", hành khúc "Tiến bước dưới chân quân kỳ", cái tên Doãn Nho mới được giới âm nhạc biết đến như một "tân binh nhạc sĩ". Khi đó, sau hoà bình, quân đội ta đang trên đường tiến lên "Chính quy và hiện đại". Bản hành khúc như một thành công sớm nhất của thể loại này thời kỳ 1954 - 1975. Những cuộc hành quân mới rất cần có những hành khúc mới bên cạnh những hành khúc truyền thống. "Tiến bước dưới quân kỳ" vừa trang nghiêm, vừa lạc quan và khoẻ khoắn. Chắc chắn nhờ sức trẻ của tuổi đôi mươi, Doãn Nho đã đầy ra cuộc đời một cảm xúc đầy tươi sáng. Nào hãy nghe: "Vừng trời đông đã hửng sáng...". Hành khúc bắt đầu bằng một nốt trắng ngân dài, rồi vọt lên những cung bậc chính của điệu thúc Sol trưởng như tiếng lảnh lói của kèn Trompet. Nhịp đi của người lính lẫn trong nhịp đi của thiên nhiên lúc bình minh: "Núi non xanh ngàn trùng xa - Tổ quốc bao la hiền hoà". Nhịp đi dẫn tới những miêu tả ngợi ca chân thành: "Tươi thắm bóng cờ - Vờn bay trên cao - muôn trái tim này hoà nhịp cùng ngàn lời ca trên sóng lúa - Lấp lánh sao bay trên quân kỳ". Những bước đi phơi phới. Những bước đi dập dồn. Những bước đi tin tưởng. Những bước đi hy vọng. Bản hành khúc ở thể hai đoạn này chợt cho lòng người lính lắng lại khi chuyển đoạn: "Nghe rung núi đồi từng bước ta đi - Nhớ mãi chiến công ngàn năm xưa...". Biết bao thương nhớ, biết bao tình đồng đội ở trong những giai điệu thơ trữ tình, sâu lắng trở lại sau nhịp đi hùng mạnh. Thủ pháp chuyển từ giọng trưởng sang giọng thú cùng hoá biểu kết hợp với bước chùng xuống nốt trầm và vút cao quãng tám, ngôn ngữ âm nhạc hết sức kiệm lời, để "ý tại ngôn ngoại", khiến bài hát vừa ngắn, vừa dễ nhớ nhưng lại đủ sức lay động.

Thành công của bản hành khúc này thực ra lại bắt nguồn từ thành công của bản hợp xướng "Sóng Cửa Tùng" được Doãn Nho viết ngay từ năm 1955 sau một đợt đi thực tế sáng tác tại giới tuyến Vĩnh Linh. Doãn Nho và Đỗ Nhuận là hai nhạc sĩ đầu tiên đưa âm hưởng hò dân gian vào hợp xướng. Ở Đỗ Nhuận trong hợp xướng "Hò đẵn gỗ", còn Doãn Nho thì trong hợp xướng "Sóng Cửa Tùng". Âm hưởng hò dân gian này đã vang lại trong "Tiến bước dưới quân kỳ". "Sóng Cửa Tùng" đã được Doãn Nho cảm hứng từ những bình minh Cửa Tùng đẹp như tranh lụa, từ những khoảnh khắc lặng đứng nhìn từ bờ Bắc sang bờ Cát Sơn có thể lội qua mà bước chân bỗng dưng dừng lại, từ những điệu hò Quảng Trị da diết nhớ thương. Một giọng nữ cao lĩnh xướng. Một lối "kể" và "xô" trong ca hát dân gian. Những thủ pháp phức điệu qua giọng các bè hát đã tô đậm chất tráng ca trong ngôn ngữ.

Cái chất tráng ca ở âm nhạc Doãn Nho không khô khan, duy lý mà lại đằm sâu, dào dạt trữ tình. Nhờ cái chất riêng như thế, ở giữa những âm hưởng tráng ca, Doãn Nho lại đưa ra một tình ca được phát triển từ dân ca Khơ Mú tên là "Chiếc khăn rơi" mà thanh niên thời ấy hay gọi là "Chiếc khăn piêu". Bài tình ca đã được Trần Chất thể hiện rất hoang sơ và trở thành bài hát trong những tiệc cưới nhiều năm hoà bình ở miền Bắc: "Nghe con chim cúc cu - Kìa nó hót lên một câu rằng - Có một nàng đi vào rừng, tìm trong rừng, lạc trong rừng, chiếc khăn Piêu ...".

Nhưng "thời thế tạo anh hùng". Cuộc chiến tranh chống Mỹ đã khiến cho âm hưởng tráng ca trong Doãn Nho có đất phát triển tới đẩtực rỡ. Ngay từ năm 1965, ở tuyến lửa khu Bốn, Doãn Nho đã viết ngay ca kịch ngắn "Lá đơn tình nguyện" gồm 5 cảnh và 3 nhân vật cùng một số quần chúng. Âm hưởng tráng ca đậm chất ví dặm Nghệ Tĩnh, nhất là trong đoạn song ca "Thế mới gọi là thanh niên" nổi tiếng đã khiến cho Doãn Nho được nhiều người mến mộ. Sau đó, giống như nhiều nhạc sĩ quân đội, Doãn Nho đã xuyên Trường Sơn vào chiến trường cùng cả vợ là nữ ca sĩ Ngọc Ánh. Gian lao và khắc nghiệt đường mòn lại khiến cho Doãn Nho tìm đến thể ca khúc hài hước như hề trong chèo. Bài thơ châm biếm của Nghiêm Đa Văn đã cho Doãn Nho có chất liệu sáng tạo ra "Quả bom câm": "Quả bom là quả bom câm - mi chui mi rúc mi nằm hố sâu - Anh công binh túm lấy đầu - Lôi lên tháo kíp khoét mau dạ dày - Móc mồm rút ruột cành cây - Lính ta mới quất thẳng tay mấy dùi - Nó kêu dậy đất vang trời - Hết câm báo với mọi người máy bay ...". Ca khúc mang tiết tấu và âm điệu chèo luôn là tủ của tốp nam cac đoàn văn công thời ấy.

Doãn Nho vào Tây nguyên đúng thời kỳ quân giải phóng B3 đang triển khai đánh tan tác sư đoàn kỵ binh bay Mỹ trong chiến dịch Đông - Xuân 1966 - 1967. Bản tráng ca "Hát mừng Tây Nguyên thắng lớn" lại vút lên trong những đảo phách đậm chất dân ca vùng cao nguyên đất đỏ này: "Tiếng súng Đắc Tô đã nổ - Mở đầu Đông - Xuân quyết thắng - Khắp chốn Tây Nguyên ơi! - Chiến thắng vang dội - Đông Xuân đã tới rồi..." Giữa âm hưởng hào hùng ấy là da diết "Tây Nguyên mừng đón thư Bác" được phát triển từ dân ca H'rê và đặt lời, ghép cùng thơ chúc Tết của Bác và "Bài ca Kpakơlong" bay bổng tinh thần thượng võ của xứ sở hái lượm săn bắn. Rời chiến trường Tây Nguyên trở ra khu Bốn, Doãn Nho lại chất ngất khúc ngợi ca "Người con gái sông La" (thơ Phương Thúy) trở thành "những giai điệu đi cùng năm tháng" đến với thế hệ trẻ hôm nay. Anh cũng lại khắc vào thời chiến một hành khúc "Năm anh em trên một chiếc xe tăng" (thơ Hữu Thỉnh) không kém gì hành khcú thời bình "Tiến bước dưới quân kỳ". Hành khúc đầy âm điệu ví dặm và hò khu Bốn và lối phát triển chủ đề chặt chẽ của Doãn Nho đã khiến cho các nhạc sĩ đàn em như Trần Tiến hết sức nể phục.

Không chỉ dâng hiến trong thể loại ca khúc và hợp xướng, Doãn Nho đã tự xác lập một ngôn ngữ âm nhạc không lời mang âm hưởng tráng ca từ việc tự học cùng với những năm tháng tu nghiệp ở nước ngoài (Ucraina). Thơ giao hưởng số 1 "tháng Tám lịch sử" của anh với việc sử dụng các ca khúc lịch sử làm các nhóm chủ đề đã cùng bản "Thần tốc mùa xuân" đoạt Huy chương Vàng Hội diễn toàn quốc 1985. Thơ giao hưởng số 2 "Thánh Gióng" vừa mang chất sử thi vừa mang chất trữ tình với việc dưa vào những nhạc khí gõ phương Đông đã dựng lên một biểu tượng Tháng Gióng bằng âm thanh.

Song có lẽ trong tất cả những năm tháng dấn thân tự nguyện, nỗi đau về sự hy sinh anh hùng của người lính ngoài mặt trận trong đó có mặt trận Quảng Trị 1972 đã thôi thúc Doãn Nho phải tự cầu siêu cho họ bằng một "khúc tưởng niệm", bằng một âm thanh bi tráng đến tột cùng. Thơ giao hưởng "Khúc tưởng niệm" của Doãn Nho viết cho một giọng nữ cao và dàn nhạc đã đoạt giải thưởng của Bộ Văn Hoá -Thông Tin. Để viết ra "Khúc tưởng niệm", Doãn Nho đã có một thời gian ngẫm nghĩ về mảnh đất Vĩnh Linh mà anh đã từng viết hợp xướng "Sóng Cửa Tùng" từ xưa. Nếu không có Vĩnh Linh toan lo gánh vác. Nếu không có VĨnh Linh bám trụ trong ác liệt. Nếu không có Vĩnh Linh tồn tại gan góc trong lòng địa đạo Vịnh Mốc để trả lời câu hỏi "Tồn tại hay là không tồn tại" ngàn đời thì làm sao những cánh quân có thể từ đây vượt sông Bến Hải, xua đia giới tuyến cắt chia. Và khúc tưởng niệm "đã được Doãn Nho viết ra như những vụt dâng, những xao động cuộn sóng". Âm nhạc giao hưởng trong "Khúc tưởng niệm" có gì xót xa như tiểu thuyết Nguyễn Minh Châu, đón chào như trường ca Thu Bồn. Một hoà điệu giữa con người và thiên nhiên. Cảm xúc giao hưởng vẫn phát triển trong đời thường. Một chuyển điệu giữa tàn lụi và sinh sôi. Cảm xúc giao hưởng lai láng một phức điệu giữa quá khứ và hiện tại. "Khúc tưởng niệm" như mọt lưu giữ về một "thời máu xanh" oanh liệt đã qua. Âm hưởng tráng ca cứ xuyên suốt trong sáng tạo của Doãn Nho.

Là một nhạc sĩ có thể tuẫn đạo vì âm nhạc, Doãn Nho luôn coi việc tu nghiệp thường xuyên là việc rất cần thiết như thở. Ngoài sáng tác, anh còn viết những tiểu luận âm nhạc để luôn dinh dưỡng mình trong không khí học thuật nghiêm túc. Suốt đời là nhạc sĩ mặc áo lính, âm hướng tráng ca không chỉ ở trong những sáng tạo của anh mà còn được truyền lửa sang thế hệ các con. Hai cháu đầu Ánh Quyên và Doãn Trường Nguyên hiện đang công tác âm nhạc tại Đài Tiếng Nói Việt Nam. Ánh Quyên (cô bé mà có lúc anh đã dùng như bút danh trong sáng tác ở chiến trường) làm biên tập âm nhạc. Còn Doãn Trường Nguyên thì là chỉ huy dàn nhạc Đài tiếng nói Việt Nam. Năm 2006, hai cha con vừa cùng nhận chung một giải thưởng hàng năm của Hội Nhạc Sĩ Việt Nam. Cháu út Doãn Mai Hương thì trở thành một nghệ sĩ thuộc bộ gõ Dàn nhạc Giao Hưởng Quốc Gia Việt Nam.

Dù đã qua tuổi "Nhân sinh thất thập" đến nửa chặng đường, Doãn Nho vẫn còn đầy đam mê trong sáng tạo âm nhạc. Những kinh nghiệm của anh và những đóng góp của anh vừa riêng biệt, vừa khiêm nhường nhưng rất đáng nể trọng. Và cuộc hành trình trong âm hưởng tráng ca của anh vẫn còn đang nhịp bước trong tiết tấu hành khúc "Tiến bước dưới quân kỳ" hồi nào.

Các tin mới

Các tin cũ hơn

Họ và tên : Địa chỉ email : Mã xác nhận :
Máy lọc nước gia đình khuyến mại facebook kẻ chợ Tài hoa đất Việt
Giá vàng Tỉ giá ngoại tệ Thời tiết Việc làm Nghe nhạc Games Thể thao Ẩm thực
  • Kinh doanh 0966 311 322
  • Chăm sóc khách hàng 0919 212 487
Hỗ trợ trực tuyến