Kẻ Chợ - Kattigara xa xăm thân yêu - PI

1. Để mở đầu bài viết tôi xin trích Từ điển bách khoa Việt Nam giải thích địa danh Kẻ Chợ như sau: Ngoài một cụm từ khá mới: “Hạt nhân kinh tế -xã hội”, mấy thông tin chủ yếu trong mục từ nói trên đại thể cũng giống như Lịch sử Việt Nam Tập I đã viết ngót 30 năm trước:“Thăng Long bấy giờ quen gọi là kinh kỳ hay Kẻ Chợ, là một thành thị vào loại lớn ở Á Đông. Người phương Tây đến nước ta hồi thế kỷ XVII đều nhận xét Thăng Long là một thành thị lớn ở châu Á…” Nói tóm gọn thì cả hai tài liệu dẫn trên đều cho rằng:-Từ Kẻ Chợ do người phương Tây thường gọi kinh thành Thăng Long mà có.-Thời gian xuất hiện và quen dùng chỉ trong khoảng hai thế kỷ 17 -18.Càng gần đến Đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội, trên các trang báo giấy báo mạng xuất hiện nhiều bài viết về Kẻ Chợ, nhiều chi tiết bình luận, dẫn chứng ca dao tục ngữ v.v.., nhưng chủ yếu vẫn chỉ có hai thông tin như trên. Đáng chú ý có bài của tác giả Phan Văn Tình phát hiện tên “người phương tây”đã ghi về địa danh Kẻ Chợ: Đó là Alexandre de Rhodes: Trong Từ điển Việt - Bồ - La (1651), ở mục từ Kẻ, soạn giả giả thích: "Những người, chỉ dùng nói về người ta khi nói cách không kính trọng. Kẻ chợ: Những người ở trong chợ, nghĩa là những người ở kinh đô Đông Kinh" (tr.123, phần Phụ lục tiếng Việt).
Bài sưu tầm của ông Tình[1] được nhiều báo chuyển tải, cho là “thông tin rất độc đáo”. Đáng tiếc đó là một mục từ đã bị A.de Rhodes định nghĩa và giải thích sai (xin xem ở dưới)
 
2.Tôi không có nhiệm vụ chuyên trị địa danh “Kẻ Chợ”, nhưng một dịp cách đây 6-7 năm có bạn nghiên cứu là một giáo sư người Pháp bất ngờ hỏi tôi: trong tài liệu Hán Nôm có chỗ nào có từ Kẻ Chợ không? Câu hỏi thật bất ngờ nhưng thú vị. Điểm nhanh quả thật thấy chưa có bài viết nào nói đến từ Kẻ Chợ trong thư tịch bi ký Hán Nôm, đành trả lời không với câu hỏi của người bạn. Nhưng vì câu hỏi đó, hễ có dịp là tôi tìm đọc trong các sách của Lê Quý Đôn, Phạm Đình Hổ, Phan Huy Chú v.v…, cả nhiều thác bản văn bia mà tôi thường xem đọc: Tịnh vô không một tài liệu nào có từ Nôm cổ quý thân yêu đó. Bây giờ tôi đã có cả “ lô sêcxông” tư liệu từ Kẻ Chợ trong sách Hán Nôm. Hân hạnh trích ảnh dẫn ra đây một số để quý vị và các bạn tham dự Hội thảo tận mắt nhìn thấy từ Nôm đặc sắc này:

 

 
 
Q.1-61a                   Q.1-66a               Q.1- 67a
 
-Sơ thụ Kinh quan giáo chức = Mơi sơ chịu làm  chịu làm  quan giáo chức KẺ CHỢ (Trà đồng giáng đản lục, Q.1-52b)
-Thiệu Bình gian ngụ cư Trường An = Năm Thiệu Bình thủa ấy ra ở KẺ CHỢ (Tây Viên kỳ ngộ ký, Q.1- 61a)
-Kinh thành sĩ nữ quan du tứ xuất = Trai gái trong KẺ CHỢ bốn bề ra xem chơi  (Tây Viên kỳ ngộ ký, Q.1- 66a)
-Sổ nguyệt hậu, sinh hương tín chí Trường An = Sau vài tháng, ngươi Nhân Giả có tin nhà đến KẺ CHỢ (Tây Viên kỳ ngộ ký, 67 a-b)
Trích hết phải đến 3-40 câu. Từ Kẻ Chợ như vậy có cứ liệu văn bản Hán Nôm khá rõ ràng:
Về chữ Nôm không có gì mới lạ: chữ KẺ 几(Nôm) viết bằng chữ Kỷ 几(Hán Việt). Chữ CHỢ (Nôm) trên là chữ Trợ 助(giúp), dưới là chữ Thị 市(chợ), thuộc cấu trúc biểu âm kiêm biểu ý. Cái đáng chú ý nhất đó là minh chứng xác tạc, nói lên rằng tên gọi kẻ Chợ do người nước ta ghi trên văn bản của ta chứ không phải nhờ người Tây ghi mà có.
Nhưng về niên đại, Truyền kỳ mạn lục khắc in năm Cảnh Hưng 24 (1763), chưa vuợt khỏi cái vành đai hai thế kỷ 17-18. Có thể biện luận để đẩy từ Kẻ Chợ ở sách này lên thế kỷ 16 vì Nguyễn Dữ là người thế kỷ 16. Nhưng từ Nôm Kẻ Chợ lại thuộc phần dịch Nôm của Nguyễn Thế Nghi, mà tiểu truyện Nguyễn Thế Nghi trong phần Tục biên của Công dư tiệp ký - tuy có ghi “ông có diễn Truyền kỳ truyện nghĩa”, không chỉnh lắm, nhưng có thể hiểu đó là nói việc Nguyễn Thế Nghi dịch Nôm Truyên kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ - các chi tiết khác có vẻ giai thoại nghich ngợm, nửa tin nửa ngờ (như nói sau khi được phong tước Đại Hưng hầu, Nguyễn Thế Nghi bèn đến cửa Đại Hưng (tức Cửa Nam) đề một câu thơ: “Anh hùng ai nấy nhung nhăng, Nào ai đến cửa Đại Hưng chẳng luồn!). Nhà Mạc không có sử riêng, nhưng chính sử như Toàn thư, Cương mục, hoặc tư sử như Đại Việt thông sử của Lê Quý Đôn không một lần nào nhắc đến Đại Hưng hầu v.v…
 
3Việc tìm thấy từ Kẻ Chợ trong TKML thúc đây tôi phải cố tìm nữa để có tư liệu càng cổ hiếm hơn càng tốt! Hoá ra tài liệu cần tìm vốn dĩ tôi đã có trong tay từ lâu: Đó là nguyên bản in của cuốn từ điển song ngữ Hán Nôm mang tên Chỉ nam ngọc âm giải nghĩa. Tôi đã nghiên cứu một số chuyên đề về cuốn sách này, không ngờ trong đó hai chữ muôn vàn quý giá:
Bang kỳ: KẺ CHỢ khoẻ bền muôn thu
邦畿:几助劸卞門秋
     (Chỉ nam ngọc âm giải nghĩa, 5a)
Chữ thuộc cấu trúc biểu âm, dùng Trợ 助Hán Việt để ghi âm Nôm Chợ. Niên đại của bản in sách Chỉ nam ngọc âm cũng tức là niên đại của địa danh Nôm KẺ CHỢ  đã trích dẫn ảnh trên đây, tôi đã có chuyên đề nhiều năm tìm kiếm cứ liệu và thực hiện một nghiên cứu bao gồm liên tiếp 9 công đoạn: 1-Khảo sát và chứng minh chữ   không phải chữ “sào巢”như TS.TXNL đã đọc. 2. Dẫn các mẫu và công trình nghiên cứu để chứng minh đó là một chữ viết kiêng huý - gồm chữ đặt dưới một ký hiệu có 4 nét gãy chuyên dùng để thể hiện các chữ kiêng huý. 3-Tìm cách đọc âm của chữ 踝(chữ này ";rất cổ và hiếm, phải tra cứu trong các từ thư tự điển trước thời Đường Tống như Ngọc thiên,Nhĩ nhã v.v…), các định chính âm của nó đọc là “hoả” (hô ngoã thiết), chứ không phải là “khoả” như chị L. đã đọc. 4. Khảo cứu chứng minh chữ  viết bộ “túc足” chứ không phải chữ bộ “nhật” 暕5.Tìm kiếm xác định “HOẢ” là chữ tên huý của vị vua chúa nào trong lịch sử Việt Nam. – Vì thời Hồ không còn một thư tịch bi ký nào nên khi thống kê hay nghiên cứu giai đoạn này, hết triều Trần chúng ta thường chuyển ngay sang triều Lê sơ. Do đó tôi quyết định phải nghiên cứu vấn đề kiêng huý dưới triều Hồ. 6.Tận sức sưu tập từ nguồn tư liệu hết sức ít ỏi để dựng cho được bản lược đồ phả hệ của họ Hồ. 7.Lược đồ dựng xong vẫn không thấy chữ “Hoả” xuất hiện, kiểm tra lại, quả nhiên phát hiện thông tin cần tìm trong Đại Việt sử ký toàn thưToàn thư ghi rõ Hồ Hán Thương - vị vua thứ hai của triều Hồ - khi nhỏ (trước khi làm vua) tên là HOẢ. Xác định “踝”( Hoả) là tên của Hồ Hán Thương trước khi nối ngôi, do kiêng huý được viết thêm thành 8.Tìm cứ liệu chứng minh việc kiêng huý chữ Hoả: Núi Hoả Vân sơn và ngôi lầu trên núi ấy là Hoả Vân lâu từ đời Trần về trước đều ghi với tên ấy,  từ đầu đời Hồ Hán Thương đổi gọi là Đại Vân sơn và Đại Vân lâuToàn thư đã chép theo tên đã đổi đó (Toàn thư, BK1-16b)  9.Không chỉ chữ huý của Hồ Hán Thương, cả chữ kiêng huý Hồ Quý Ly cũng được tìm thấy (Chỉ nam ngọc âm,  5b) [2FONT>Quá trình khảo cứu trải qua 9 công đoạn liên hoàn, phải có kết quả chính xác ở công đoạn trước mới có thể thực hiện được công đoạn sau, để đi đến kết luận chữ viết trên văn bản là chữ tên huý của Hồ Hán Thương (1401-1407) và năm Tân Tị khắc trên nguyên bản là năm Tân Tị 1401 niên hiệu Thiệu Thành thứ 1 đời Hồ Hán Thương.
Đến đây chúng ta có bằng chứng chắc chắn để xác định niên đại khắc in của nguyên bản sách Chỉ nam ngọc âm hiện có là năm Tân Tị 1401.[3]
Đó cũng là niên đại tối thiểu của từ KẺ CHỢ xuất hiện trong sách này (đầu thế kỷ XV), nhưng sách phải qua quá trình biên soạn và khắc in trước đó nhiều năm và hoàn toàn có thể nâng tuổi thọ của hai chữ KẺ CHỢ đó vào trong khung của thế kỷ 14.- đã cổ hơn 3-4 thế kỷ so với vành đai quá gò bó hai thế kỷ 17-18!
 
(còn nữa)

 

Các tin mới

Các tin cũ hơn

Họ và tên : Địa chỉ email : Mã xác nhận :
Máy lọc nước gia đình khuyến mại facebook kẻ chợ Tài hoa đất Việt
Giá vàng Tỉ giá ngoại tệ Thời tiết Việc làm Nghe nhạc Games Thể thao Ẩm thực
  • Kinh doanh 0966 311 322
  • Chăm sóc khách hàng 0919 212 487
Hỗ trợ trực tuyến