Hỡi Anh Đi Đường Cái Quan - PII

9. đồng bằng Bình Định  có nhiều đồng bằng nhỏ (Tam Quan, Bồng Sơn, Phù Mỹ, Phù Cát) với tổng diện tích chừng 1 550 km2, nhưng chỉ có đồng bằng Qui Nhơn là rộng nhất vì chiếm đến 500km2;

Từ ngoài vào, phải kể :

-  Sông An Lão bắt nguồn từ vùng núi huyện Ba Tơ tỉnh Quảng Ngãi

 Nước Ba Tơ chảy vô Bình Định

Nhắn bạn chung tình tránh nịnh, chớ theo

và chảy từ Bắc xuống Nam qua các huyện An Lão, Hoài Ân tỉnh Bình Định và hợp với sông Lại (Lại Giang) ở gần thị trấn huyện lị huyện Hoài Nhơn trước khi đổ ra biển

Nước Lại Giang mênh mang mùa nắng

Dòng sông Côn lai láng mùa mưa

Đã cam tháng đợi năm chờ

Duyên em đục chịu, trông nhờ quản bao

-sông Trúc chỉ là một sông nhỏ chảy từ đầm Trà Ổ ra biển ở huyện Phù Mỹ.

-Sông Côn  dài hơn sông trên, phát nguyên từ khối núi Ngọc Rô ở huyện Kon Plong tỉnh Kontum, đoạn thượng lưu là sông Dak Cron Bung, đoạn trung lưu,  chảy vào huyện Tây Sơn có tên sông Hà Giao, đoạn hạ lưu chia ra nhiều chi lưu, đổ ra vịnh Quy Nhơn.

Vài ca dao có địa danh thuộc Bình Định như sau:

-Anh về Đập Đá , Gò Găng

Để em kéo vải sáng trăng một mình

-Tam Quan đất tốt trồng dừa

Nam thanh nữ tú cho vừa ý anh

10. đồng bằng Tuy Hoà do Sông Ba bồi đắp. Đây là một con sông lớn và dài gần 400km, bắt nguồn từ cao nguyên Kontum, chảy qua các tỉnh Pleiku và Phú Yên rồi ra biển ỏ Tuy Hoà . Đoạn hạ lưu, từ chỗ hợp lưu với sông Hinh ỏ Củng Sơn, chảy ra biển, gọi là sông Đà Rằng, có đập Đồng Cam . Lưu vực rất rộng ( 13800km2); với một lưu vực rộng lớn như thế cọng thêm hệ thống dẫn nước của đập Đồng Cam tưới các cánh đồng phù sa phì nhiêu, tạo một nền nông nghiệp phát đạt.:

Tiếng đồn Bình Định tốt nhà

             Phú Yên tốt ruộng, Khánh Hoà tốt trâu

Bên phải sông Ba có một  nhánh gọi là sông Hinh hợp với sông Ba ở Củng Sơn, huyện lỵ của huyện Sơn Hoà. Trên sông có trạm thủy điện Sông Hinh, công suất 66 MW

Trong đồng bằng Phú Yên cũng có một đầm lớn rộng 1500ha, có sò huyết, tục gọi đầm Ô Loan.

11. đồng bằng Khánh Hoà hay Nha Trang chỉ gồm hai đồng bằng chính là đồng bằng Ninh Hoà (100km2) và đồng bằng Nha Trang (135 km2), ngoài ra toàn các đồng bằng nho nhỏ. Giữa mũi Đèo Cả đến mũi Dinh (Padaran), bờ biển có nhiều bãi rất đẹp như bãi biển Đại Lãnh phía bắc Ninh Hoà và nhiều hòn đảo nhỏ ngày nay đã dính liền vào bờ biển bởi những giải duyên hải từ Bắc đến Nam.

Sông Cái chảy qua thành phố Nha Trang :

-Anh muốn tìm nguồn nước trong

Nên đi ngược dòng sông Cái

Hay vì bị bùa ngải

Nên anh phải bỏ bãi, lên nguồn?

Thuyền anh dù thuận gió đi luôn

Đến đầu Thác Ngựa cũng phải cuốn buồm trở lui

(Thác Ngựa là một trong các thác nguy hiểm ở thượng nguồn sông Nha Trang)

 

-Thơm Vạn Giã thơm đà qúa ngọt

Mía Phú Ân cái đọt cũng ngon

Hỡi người chưa vợ chưa con

Vào đây chung gánh nước non với mình

Quản bao lên thác xuống ghềnh

Mía ngon, thơm ngọt đượm tình quê hương

-Phải chi Sông Cái có cầu

Thiếp qua, thiếp giải cơn sầu chàng nghe

Ai làm chén nọ xa ve

Mùa xuân thiếp đợi, mùa hè chàng trông

Biết là có đặng hay không                

Đó chờ, đây đợi uổng công hai đàng

12. đồng bằng Ninh Thuận. Vùng này có tiếng nắng thừa mưa thiếu, khô hạn . Sông Phan Rang, còn gọi sông Cái có đập Nha Trinh , ngày nay nhờ nước xả của đập thủy điện Danhim trên Dalat, nên lượng nước sử dụng cho sự tưới ruộng được  nhiều hơn. Phía Đông Bắc thị xã Phan Rang, có đầm Nại rộng 700 ha .

Tại đồng bằng Phan Rang, mùa nắng hiện tượng bốc hơi xảy ra rất mạnh, do sự mao dẫn, các mầu bọt trắng đục đùn lên mặt đất. Đó là đất cà giang, nhiều cacbonat natri, dân địa phương thiếu xabông dùng chất đó kỳ cọ khi tắm

13. đồng bằng Bình Thuận

Từ mũi Dinh đến Phan Thiết, giãy núi Trường Sơn ở xa bỡ biển hơn, do đó các đồng bằng rộng  hơn nhưng lại khô hạn: vũ lượng hàng năm nhỏ hơn 600mm và số ngày mưa ít hơn 80. Nhờ khô hạn, sự bốc hơi nước mạnh nên có nhiều ruộng muối như ở Cà Ná.

Nếu kể bắt đầu từ ngoài vào, ta có sông Lòng Sông, chảy qua huyện Tuy Phong,rồi đến sông Lủy  với sông Mao, một sông nhánh bên trái của sông Lủy, đổ ra cửa Phan Rí..

Sông Mường Mán chảy qua Phan Thiết

Quần đảo Phú Qúy ngoài khơi Bình Thuận

14. Lưu vực và ảnh hưởng rừng trên  lưu vực

Lưu vực sông là vùng lãnh thổ mà sông nhận được nưóc nuôi dưỡng. Các dòng sông miền Trung có lưu vực nhỏ, chỉ trừ sông Mã, sông Cả , sông Thu Bồn và sông Ba . Trong thủy lợi, diện tích lưu vực sông được tính từ nguồn đến vị trí công trình tính toán

Rừng có ảnh hưởng đến các yếu tố thủy văn trong lưu vực: rừng hạn chế dòng chảy mặt, chuyển nước mặt thành nước ngầm, nhờ vậy có tác dụng điều tiết nguồn nước sông suối Rừng bảo vệ đất trên các triền lưu vực, giúp chống  xói mòn. Những lưu vực có rừng che phủ thì độ ẩm không khí tăng cao, làm tăng lượng nước rơi địa hình. Chính nhờ các khả năng điều tiết to lớn như vậy của rừng  nên sự phá rừng bừa bãi trên lưu vực đã dẫn đến những kết qủa tai hại như lũ lụt xảy ra, hạn hạn tiếp diễn, xói mòn triền dốc, đem theo cả sỏi đá lẫn cát bùn làm nhiều hồ chứa nước dễ bị bít và cạn, phải nạo vét định kỳ

Để dễ bề so sánh, sông Hồng dài 1126 km và có lưu vực toàn thể là 168 700 km2 trong đó chiều dài chảy trong nước là 556 km và lưu vực trong nước là 86 500 km2; sông Mekong có lưu vực toàn thể rất rộng: 795 000km2, trong đó chỉ có 71 000km2 là nằm trong nước.

15. Công dụng của các dòng sông

Trong các tài nguyên thiên nhiên, sông ngòi là một tài nguyên vô giá vì đảm nhận nhiều chức năng, cung cấp cho con người những dịch vụ tối cần cho cuộc sống.

Sông ngòi giữ nhiều chức năng quan trọng như:

.cung cấp nước sinh hoạt

.nước dùng trong các kỹ nghệ: mía đường, xi măng, giấy

.đem từng lớp lớp phù sa về giúp cho nông nghiệp trồng trọt, chăn nuôi

.nuôi trồng thủy sản ở mọi môi trường: thủy sản nước ngọt,  thủy sản nước lợ và nước mặn

. vận tải ghe thuyền chuyên chở phẩm vật từ miền xuôi lên miền ngược và đem sản phẩm miền núi xuống đồng bằng:

Ai về nhắn với họ nguồn

Mít non chở xuống, cá chuồn chở lên

. hồ chứa nước tại các vùng  cao vừa sản xuất điện năng, vừa công dụng tưới nước và điều hoà dòng chảy

16. Sông nước trong văn học dân gian

Sông ngòi luôn luôn là nguồn cảm hứng vô tận cho thơ, văn, nhạc. Những bài thơ Đường của Lý Bạch, của Thôi Hiệu, bài Tỳ Bà Hành của Bạch Cư Dị, bản nhạc Dòng Sông Xanh đều lấy sông làm nguồn cảm hứng. Riêng văn học dân gian cũng có nhiều điệu hò trên sông nước. Vì sự vận chuyển hàng hoá bằng ghe thuyền đòi hỏi chèo chống khó nhọc nên để bớt vất vả khi chèo đò, nhiều loại hò ra đời với nội dung rất phong phú,  phản ánh phong cảnh thiên nhiên, mối tình trai gái v.v. Cùng với mái chèo cất nhịp, những lời ca giàu tính chất trữ tình giúp cả khách lẫn trai chèo quên đi những nhọc nhằn, nỗi lạnh lẽo tịch mịch của đêm truờng. Văn học dân gian được  phong phú thêm với những hò Huế, hò Quảng, hò sông Mã v.v.

Dòng sông ở Huế với  nhiều điệu hò: mái nhì, mái đẩy, dô hậy, đẩy nôốc là những thể hò dân gian trên sông nước. Tiếng hò của mối tình ngang trái:

Nước chảy xuôi, con cá buôi lội ngược

Nước chảy ngược, con cá vượt lội ngang

Thuyền em xuống bến Thuận An

Thuyền anh lại trẩy lên ngàn anh ơi !

Câu hò mái nhì gợi nhiều rung cảm do tình yêu đôi lứa:

Nước đầu cầu, khúc sâu khúc cạn

Chèo qua Ngọc Trản, đến mạn Kim Long

Sương sa gió thổi lạnh lùng

Sóng xao trăng lặn, gợi lòng nhớ thương

Tình yêu chân thật, tình yêu không son phấn là những đề tài trong các câu hò dân gian:

Thiên sanh nhân, hà nhân vô lộc

Địa sanh thảo, hà thảo vô căn

Một mình em ngồi dựa lòng thuyền, dưới nưóc trên trăng

Biết cùng ai trao duyên gửi phận, cho được bằng thế gian

 

Hò khoan có cả hò trên vạn, hò dưới nước. Hò khoan cũng được gọi với nhiều tên như hò đối đáp, hò chào mừng. Nhiều loại hò có tính cách chơi chữ dân gian và lối chơi chữ của nhà nho rất thông dụng:

Cá có đâu mà anh ngồi câu đó

Biết có không mà công khó anh ơi ..

Hoặc:

Gái Xuân em đi chợ Hạ

Mua con cá Thu về chợ hãy đang Đông

Ai nói với anh em đã có chồng

Tức mình em đổ cá xuống sông em về

Hoặc:

Người Kim mã cưõi con Ngựa vàng,

Đất Phù Long rồng nổi, thời chàng đói chi

Người con trai cũng đối lại:

Người Thanh Thủy gặp khách Nước Trong,

           Hoành Sơn ngang núi, đã thoả lòng em chưa ?

Hò có nhiều loại tùy động tác như hò rời bến, hò đò xuôi, hò mắc cạn v.v.Nhạc điệu tùy lúc. Hò đò xuôi khi  thuận buồm xuôi gió với nhạc điệu dài đều; hò mắc cạn thì khi dứt một câu hò thì trai đò phải đồng lên tiếng ‘vác’ đồng thời đem hết sức  vác thuyền và cứ dứt một câu hò, thuyền nhích được một đoạn

Những câu hò, câu hát cũng dùng sông để ví von, so sánh:

-Bao giờ cho sóng bỏ gành

Cù lao bỏ biển, anh mới đành bỏ em .

 

-Cây đa cũ, bến dò xưa,

Người thương có nghĩa, nắng mưa ta vẫn chờ

 

-Nào khi mô, em nói với anh :

Sông cạn, mà tình không cạn,

Vàng mòn, mà nghĩa chẳng mòn

Nay chừ nước lại xa non,

Đêm năm canh tơ tưởng, héo hon ruột tằm

-Muời hai bến nước là duyên

Em cũng muốn bến hiền thuyền đậu

Nhưng em trách cho hai bên phụ mẫu

Làm cho hai đứa không nên thất nên gia

Xa cách này bởi tại mẹ cha

Làm cho nên nỗi bướm hoa lìa cành

Các tin mới

Các tin cũ hơn

Họ và tên : Địa chỉ email : Mã xác nhận :
Máy lọc nước gia đình khuyến mại facebook kẻ chợ Tài hoa đất Việt
Giá vàng Tỉ giá ngoại tệ Thời tiết Việc làm Nghe nhạc Games Thể thao Ẩm thực
  • Kinh doanh 0966 311 322
  • Chăm sóc khách hàng 0919 212 487
Hỗ trợ trực tuyến